Tạp chí Tim mạch học Việt Nam

Chi tiết bài viết

Mô tả chi tiết bài viết

Trang chủ
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG Số phát hành: Số 116 BỆNH SUY TIM SIÊU ÂM TIM

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG THẤT PHẢI TRÊN SIÊU ÂM DOPPLER MÔ TIM Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KÌ

Trung Lê: Bệnh viện Đa Khoa 115 Nghệ An;
Xuất bản: tháng 8 29, 2025
Views: 60

Tóm tắt

Tổng quan

Trong khi đa số nghiên cứu tập trung vào đánh giá chức năng thất trái, chức năng thất phải dường như ít được chú ý tới, nhất là trên đối tượng suy thận mãn tính giai đoạn cuối đang lọc máu chu kì.

Mục tiêu

Khảo sát một số chỉ số đánh giá chức năng thất phải trên siêu âm Doppler tim và đánh giá mối tương quan giữa chức năng thất phải và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân lọc máu chu kì.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, từ tháng 3/2023 tới tháng 11/2023 tại bệnh viện Đa khoa 115 Nghệ An. Kết thúc theo dõi có 46 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kì tham gia nghiên cứu.

Kết quả

Chỉ số RVD1 (đường kính đáy thất phải) trung bình là 36,2 ± 4,8; RVD2 (đường kính giữa thất phải) trung bình là 25,5 ± 3,8; RVD3 (đường kính dọc thất phải) trung bình là 52,8 ± 4,2; RAVI trung bình là 27,8 ± 6; 26,1% bệnh nhân có RAVI (thể tích nhĩ phải ) cao trên giới hạn bình thường trên theo giới tính; PAPs (áp lực động mạch phổi tâm thu) trung bình là 37,7 ± 8,1 mmHg. 54,3% bệnh nhân có tăng áp phổi (PAPs >35mmHg); Chỉ số RIMP TDI (chỉ số chức năng co bóp thất phải đo trên Doppler mô) trung bình là 0,54 ± 0,33; S’ 3 (vận tốc vòng van 3 lá thì tâm thu) lá trung bình là 15,7 ± 4,6 (cm/s); E/e’ trung bình là 5,2 ± 1,2; RIMP TDI là chỉ số phát hiện được nhiều bệnh nhân bất thường nhất trong nhóm các chỉ số đánh giá chức năng tâm thu thất phải với 23,9%. Có 17,4% bệnh nhân có bất thường cả ba chỉ số TAPSE (vận động vòng van ba lá thì tâm thu trên M-mode), RIMP và S’ 3 lá. Chỉ số RIMP TDI cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm AVF (thông nối động tĩnh mạch) cánh tay so với AVF cẳng tay (0,42 ± 0,25 so với 0,64 ± 0,35; p=0,016); chỉ số S’ 3 lá thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm AVF cánh tay so với AVF cẳng tay (17,7 ± 3,5 so với 14,2 ± 4,8; p=0,008); chỉ số E/e’ 3 lá cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm AVF cánh tay so với AVF cẳng tay (4,7 ± 0,7 so với 5,6 ± 1,4; p= 0,012). Thời gian lọc máu có mối tương quan thuận mức độ trung bình với RIMP TDI (r2 = 0,420; p = 0,004); thời gian lọc máu có tương quan nghịch mức độ trung bình với S’ 3 lá (r2= -0,469; p=0,001); thời gian lọc máu có tương quan thuận mức độ yếu với E/e’ van 3 lá (r2= 0,269; p = 0,049).

Kết luận

RVD1 và RAVI trung bình ở bệnh nhân suy thận mạn có lọc máu chu kì lớn so với ngưỡng trung bình ở người bình thường. RIMP TDI là chỉ số phát hiện được bệnh nhân có bất thường chức năng thất phải nhiều nhất khi so với TAPSE và S’ 3 lá. Nhiều bệnh nhân lọc máu chu kì có bất thường cả ba chỉ số TAPSE, RIMP TDI và S’ 3 lá. Có mối tương quan giữa các chỉ số chức năng thất phải và thời gian lọc máu, vị trí của AVF.

Từ khóa
Suy thận mạn lọc máu chu kì suy tim chức năng thất phải Doppler mô.

Tệp

Lượt xem bài60
Lượt xem tài liệu7
Lượt tải xuống0
Chuyên mục NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Số phát hành Số 116
Category BỆNH SUY TIM, SIÊU ÂM TIM
Trang 47-52