Tóm tắt
Đặt vấn đề: Suy tim là gánh nặng y tế toàn cầu, ảnh hưởng đến hơn 64 triệu người, tỷ lệ mắc tăng nhanh ở người cao tuổi và đi kèm tử vong, tái nhập viện cao dù có điều trị tối ưu theo khuyến cáo hiện nay của ESC và các hội tim mạch lớn trên thế giới. Suy yếu (frailty) là một hội chứng lão khoa đặc trưng bởi sự suy giảm dự trữ sinh lý và tăng tính dễ tổn thương trước các stress, ngày càng được nhận diện là một yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng ở bệnh nhân suy tim. Tuy nhiên, dữ liệu về suy yếu theo thang Clinical Frailty Scale (CFS) ở bệnh nhân suy tim cấp cao tuổi tại Việt Nam còn rất hạn chế.
Mục tiêu: (1) Khảo sát mức độ suy yếu theo thang CFS ở bệnh nhân suy tim cấp ≥ 60 tuổi điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai. (2) Mô tả các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị liên quan đến tình trạng suy yếu (CFS ≥ 5).
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 240 bệnh nhân ≥ 60 tuổi nhập viện vì suy tim cấp, điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai từ 8/2024–3/2025. Chẩn đoán suy tim cấp dựa theo khuyến cáo ESC cập nhật gần nhất. Mức độ suy yếu được đánh giá bằng thang Clinical Frailty Scale (CFS 1–9) của Rockwood dựa trên chức năng nền trong vòng 2 tuần – 1 tháng trước nhập viện, phân nhóm: không suy yếu (CFS 1–3), tiền suy yếu (CFS 4), suy yếu nhẹ–trung bình (CFS 5–6), suy yếu nặng–rất nặng (CFS 7–8); CFS 9 loại khỏi nghiên cứu. Phân tích so sánh hai nhóm: không suy yếu (CFS 1–4) và suy yếu (CFS ≥ 5) về đặc điểm nhân trắc, bệnh đồng mắc, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị.
Kết quả: Tuổi trung bình 72,9 ± 8,8 (60–97) tuổi; nam 57,5%. Tỷ lệ tăng huyết áp 60,8%, đái tháo đường typ 2 là 47,5%, bệnh mạch vành 44,6%, rung nhĩ 30,8%, suy thận mạn 63,7%. Phần lớn bệnh nhân ở NYHA III–IV khi nhập viện. Phân bố CFS: CFS 1–3 (không suy yếu) 17,9%; CFS 4 (tiền suy yếu) 28,7%; CFS 5–6 (suy yếu nhẹ–trung bình) 47,9%; CFS 7–8 (suy yếu nặng–rất nặng) 5,4%. Như vậy, có 128/240 bệnh nhân (53,3%) thuộc nhóm suy yếu (CFS ≥ 5). So sánh nhóm không suy yếu (CFS 1–4, n = 112) và suy yếu (CFS ≥ 5, n = 128) cho thấy: nhóm suy yếu lớn tuổi hơn (76,9 ± 8,8 so với 68,5 ± 6,3; p < 0,001), có tỷ lệ suy thận mạn (48,4% so với 22,3%; p < 0,001) và tiền sử nhồi máu não (9,4% so với 1,8%; p = 0,012) cao hơn rõ rệt. Tỷ lệ bệnh nhân NYHA III–IV khi nhập viện cũng cao hơn ở nhóm suy yếu (80,5% so với 57,1%; p < 0,001). Về điều trị nội viện, nhóm suy yếu được sử dụng ARNI (32,0% so với 47,3%; p = 0,015), chẹn beta (18,8% so với 33,9%; p = 0,007) và MRA (45,3% so với 65,2%; p = 0,002) với tỷ lệ thấp hơn, nhưng dùng furosemid (97,7% so với 89,3%; p = 0,008) và thuốc vận mạch (39,8% so với 23,2%; p = 0,006) nhiều hơn rõ rệt.
Kết luận: Suy yếu theo thang CFS rất phổ biến ở bệnh nhân suy tim cấp ≥ 60 tuổi điều trị tại một viện tim mạch tuyến cuối ở Việt Nam, với hơn một nửa bệnh nhân có CFS ≥ 5 và chủ yếu là suy yếu nhẹ–trung bình. Tuổi cao, suy thận mạn, tiền sử nhồi máu não và mức độ suy tim nặng (NYHA III–IV) có liên quan chặt chẽ với tình trạng suy yếu. Nhóm suy yếu có xu hướng được sử dụng các thuốc nền cải thiện tiên lượng (ARNI, chẹn beta, MRA) với tỷ lệ thấp hơn, trong khi dùng lợi tiểu quai và thuốc vận mạch nhiều hơn. Kết quả gợi ý cần tầm soát suy yếu bằng CFS trong thực hành thường quy, đồng thời xây dựng đường dẫn chăm sóc đa chuyên khoa nhằm tối ưu điều trị cho bệnh nhân suy tim cao tuổi có suy yếu.