Tạp chí Tim mạch học Việt Nam

Chi tiết bài viết

Mô tả chi tiết bài viết

Trang chủ
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG Số phát hành: Số 103, 2022 TIM MẠCH CAN THIỆP

Đánh giá bước đầu vai trò của bóng đối xung động mạch chủ trong can thiệp động mạch vành qua da nguy cơ cao

Nguyen Trung Hau: Vietnam National Heart Institute; Phạm Mạnh Hùng: Trường Đại học Y Hà Nội; Võ Duy Văn: Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai; Văn Đức Hạnh: Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai; Nguyễn Quang Kha: Viện Tim mạch Việt Nam - Bệnh viện Bạch Mai; Nguyễn Mạch Hoạt: Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai; Đỗ Đức Tuân: Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai;
Xuất bản: tháng 12 1, 2022
Views: 6

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Can thiệp động mạch vành qua da (PCI) ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành nguy cơ cao có tỷ lệ thành công thấp hơn và nguy cơ biến chứng cao hơn. Bóng đối xung động mạch chủ (Intra-Aortic Balloon Pump – IABP) là một thiết bị hỗ trợ huyết động được khuyến cáo sử dụng ở nhóm bệnh nhân này. Tuy nhiên, vai trò của IABP vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất.

Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân được can thiệp động mạch vành qua da nguy cơ cao; (2) Đánh giá vai trò của bóng đối xung động mạch chủ (IABP) trong quá trình can thiệp động mạch vành qua da nguy cơ cao.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 10 năm 2021, nghiên cứu được thực hiện trên 36 bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành nguy cơ cao được chỉ định can thiệp động mạch vành qua da. Trong số đó, 16 bệnh nhân được can thiệp dưới sự hỗ trợ huyết động bằng bóng đối xung động mạch chủ (IABP).

Kết quả: Có 36 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó nam giới chiếm 66,7%; tuổi trung bình là 71,81 ± 8,52 tuổi. Các yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp bao gồm tăng huyết áp (63,9%), hút thuốc lá (47,2%) và đái tháo đường (33,3%). Phân suất tống máu thất trái trung bình là 34 ± 9,71%. Điểm SYNTAX trung bình là 27,39 ± 2,96. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa nhóm có và không sử dụng IABP trong quá trình can thiệp. Ở nhóm sử dụng IABP, huyết áp động mạch trung bình sau hỗ trợ IABP cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trước hỗ trợ (88,31 ± 7,39 mmHg so với 77,67 ± 7,20 mmHg; p = 0,001), trong khi nhịp tim trung bình sau hỗ trợ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với trước hỗ trợ (80,75 ± 9,84 so với 83,93 ± 12,66 lần/phút; p = 0,007). Nhóm được hỗ trợ bằng IABP có tỷ lệ không cần sử dụng thuốc vận mạch cao hơn, đồng thời tỷ lệ chỉ cần sử dụng một thuốc vận mạch thấp hơn so với nhóm không được hỗ trợ bằng IABP; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết luận: Bóng đối xung động mạch chủ (IABP) có thể được sử dụng để hỗ trợ huyết động trong can thiệp động mạch vành qua da nguy cơ cao. Việc sử dụng IABP giúp giảm tỷ lệ bệnh nhân cần bổ sung thuốc vận mạch để duy trì ổn định huyết động.

Từ khóa
can thiệp động mạch vành qua da nguy cơ cao bóng đối xung động mạch chủ hỗ trợ huyết động

Tài liệu tham khảo

1.
Rihal CS, Naidu SS, Givertz MM, Szeto WY, Burke JA, Kapur NK, et al. 2015 SCAI/ACC/HFSA/STS Clinical Expert Consensus Statement on the Use of Percutaneous Mechanical Circulatory Support Devices in Cardiovascular Care: Endorsed by the American Heart Assocation, the Cardiological Society of India, and Sociedad Latino Americana de Cardiologia Intervencion; Affirmation of Value by the Canadian Association of Interventional Cardiology-Association Canadienne de Cardiologie d’intervention. J Am Coll Cardiol. 2015 May 19;65(19):e7–26.
2.
Perera D, Stables R, Thomas M, Booth J, Pitt M, Blackman D, et al. Elective intra-aortic balloon counterpulsation during high-risk percutaneous coronary intervention: a randomized controlled trial. JAMA. 2010 Aug 25;304(8):867–74.
3.
Briguori C, Sarais C, Pagnotta P, Airoldi F, Liistro F, Sgura F, et al. Elective versus provisional intra-aortic balloon pumping in high-risk percutaneous transluminal coronary angioplasty. Am Heart J. 2003 Apr;145(4):700–7.
4.
Mishra S, Chu WW, Torguson R, Wolfram R, Deible R, Suddath WO, et al. Role of prophylactic intra-aortic balloon pump in high-risk patients undergoing percutaneous coronary intervention. Am J Cardiol. 2006 Sep 1;98(5):608–12.
5.
Pan W-H, Yeh W-T. How to define obesity? Evidence-based multiple action points for public awareness, screening, and treatment: an extension of Asian-Pacific recommendations. Asia Pac J Clin Nutr. 2008;17(3):370–4.
6.
Lang RM, Badano LP, Mor-Avi V, et al. Recommendations for cardiac chamber quantification by echocardiography in adults: an update from the American Society of Echocardiography and the European Association of Cardiovascular Imaging. J Am Soc Echocardiogr Off Publ Am Soc Echocardiogr. 2015;28(1):1-39.e14. doi:10.1016/j.echo.2014.10.003
7.
Mamas MA, Anderson SG, O’Kane PD, et al. Impact of left ventricular function in relation to procedural outcomes following percutaneous coronary intervention: insights from the British Cardiovascular Intervention Society. Eur Heart J. 2014;35(43):3004-3012a. doi:10.1093/eurheartj/ehu303
8.
Mohr FW, Morice MC, Kappetein AP, et al. Coronary artery bypass graft surgery versus percutaneous coronary intervention in patients with three-vessel disease and left main coronary disease: 5-year follow-up of the randomised, clinical SYNTAX trial. Lancet Lond Engl. 2013;381(9867):629-638. doi:10.1016/S0140-6736(13)60141-5
9.
Akyurekli Y, Taichman GC, Keon WJ. Effectiveness of intra-aortic balloon counterpulsation on systolic unloading. Can J Surg J Can Chir. 1980;23(2):122-126.
10.
Trần Duy Anh, Nguyễn Thị Quý. Tổng quan về bóng đối xung nội động mạch chủ. Y học thực hành (835-836). 2012.
Đánh giá bước đầu vai trò của bóng đối xung động mạch chủ trong can thiệp động mạch vành qua da nguy cơ cao

Tệp

Lượt xem bài6
Lượt xem tài liệu0
Lượt tải xuống0
Chuyên mục NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Số phát hành Số 103, 2022
Category TIM MẠCH CAN THIỆP
Trang 16-25
Chủ sở hữu bản quyền 2022 Tạp chí Tim mạch học Việt Nam