Tóm tắt
Đặt vấn đề: Trong STEMI, rối loạn vi mạch vẫn tồn tại sau tái thông và làm tăng biến chứng. Đánh giá chỉ số IMR/angio-IMR được xem như phương pháp hiệu quả trong đánh giá rối loạn vi mạch vành. Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá chức năng vi mạch vành thông qua chỉ số này trên nhóm đối tượng nhồi máu cơ tim có ST chênh lên.
Mục tiêu: Đánh giá chức năng vi mạch vành bằng chỉ số trở kháng vi tuần hoàn ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên được can thiệp mạch vành thì đầu.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mổ tả, tiến cứu trên 51 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên được can thiệp mạch vành. Chỉ số trở kháng vi tuần hoàn (IMR- Index of Microcirculatory Resistance), đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, can thiệp và biến cố tim mạch sau can thiệp 30 ngày được phân tích.
Kết quả: IMR trung bình là 32,75 ± 12,12; nhóm IMR ≤40 chiếm 70,59%, nhóm IMR >40 chiếm 29,41%. Nhóm IMR >40 có tỷ lệ NYHA III–IV cao hơn (26,7% so với 5,6%; p=0,045), LVEF(%) thấp hơn (44,0±9,6 so với 50,1±9,0; p=0,035) và TIMI 3 sau can thiệp thấp hơn (46,7% so với 94,4%; p < 0,0001).Tỷ lệ biến cố sau can thiệp 30 ngày là 11,76%, trong đó nhóm IMR>40 là 13,3% (1 trường hợp tử vong và 1 trường hợp đau thắt ngực), nhóm IMR≤40 là 11,11% (3 trường hợp nhập viện để tái can thiệp và 1 trường hợp đau thắt ngực). Sự khác biệt giữa tỷ lệ xảy ra biến cố giữa hai nhóm IMR là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Kết luận: IMR phản ánh tình trạng rối loạn vi mạch ở bệnh nhân STEMI, với nhóm IMR >40 có mức độ tái thông mạch vành sau can thiệp kém hơn. Tuy nhiên chưa có ý nghĩa trong việc dự báo biến cố xảy ra sau can thiệp.