Tạp chí Tim mạch học Việt Nam

Chi tiết bài viết

Mô tả chi tiết bài viết

Trang chủ
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG Số phát hành: Số 117

Kết quả ngắn hạn điều trị tổn thương động mạch vành bằng phương pháp nong bóng phủ thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị

Bùi Long: Bệnh viện Hữu Nghị;
Xuất bản: tháng 9 30, 2025
Views: 49

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả ngắn hạn điều trị tổn thương động mạch vành bằng phương pháp nong bóng phủ thuốc và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại sau nong bóng phủ thuốc.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên  cứu  mô  tả  cắt  ngang  có  theo dõi dọc. Các bệnh nhân được chụp lại động mạch vành kiểm tra sau  12 tháng.

Kết quả: Với 56 tổn thương được nong bóng phủ thuốc ở 56 bệnh nhân, nong bóng tổn thương tái hẹp trong stent chiếm đa số trường hợp với 67,86%. Trước can thiệp, có 4 tổn thương (7,14%) dòng chảy TIMI0, 3 tổn thương (5,36%) dòng chảy TIMI1 và 19 tổn thương (33,93%) có dòng chảy TIMI2. Mức độ hẹp trung bình của các tổn thương trong nhóm đối tượng nghiên cứu là 83,19 ± 10,20%. Sau nong bóng phủ thuốc hầu hết tổn thương đạt dòng chảy TIMI3 với tỉ lệ 96,43%. Mức độ hẹp lòng mạch theo đường kính giảm xuống còn 11,94 ± 8,41% sau khi nong bóng phủ thuốc. Tỉ lệ thành công về mặt thủ thuật là 100%. Có 31/56 (55,3%) bệnh nhân được chụp lại để kiểm tra vị trí nong bóng phủ thuốc sau 12 tháng. Mức độ hẹp lại trung bình sau 12 tháng nong bóng phủ thuốc là 47,78 ± 30,60%, mức độ mất lòng mạch muộn là 0,43 ± 0,36mm. Có tiền sử tái hẹp stent, có nhiều stent cũ trên nhánh, tổng chiều dài stent lớn, tổn thương dài và tổn thương tái hẹp trong stent cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại sau 12 tháng. Khi phân tích hồi quy đa biến, các yếu tố đặt nhiều stent và tổn thương dài là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy, can thiệp động mạch vành bằng phương pháp nong bóng phủ thuốc (DCB) tại Bệnh viện Hữu nghị đạt hiệu quả cao với tỉ lệ thành công thủ thuật là 100%. Sau can thiệp, mức độ hẹp lòng mạch giảm đáng kể từ 83,19% xuống còn 11,94%.

Kết quả theo dõi sau 12 tháng cho thấy mức độ hẹp tái phát trung bình là 47,78%. Các yếu tố đặt nhiều stent và tổn thương dài là những yếu tố tiên lượng độc lập gây tái hẹp sau can thiệp bằng nong bóng phủ thuốc.

Từ khóa
động mạch vành bóng phủ thuốc.

Tài liệu tham khảo

1.
Koiwaya H, Watanabe N, Kuriyama N, et al. Predictors of Recurrent In-Stent Restenosis After Paclitaxel-Coated Balloon Angioplasty. Circ J. 2017;81(9):1286-1292. doi:10.1253/circj.CJ-17-0095
2.
Byrne RA, Neumann FJ, Mehilli J, et al. Paclitaxel-eluting balloons, paclitaxel-eluting stents, and balloon angioplasty in patients with restenosis after implantation of a drug-eluting stent (ISAR-DESIRE 3): a randomised, open-label trial. Lancet. 2013;381(9865):461-467. doi:10.1016/S0140-6736(12)61964-3
3.
Unverdorben M, Vallbracht C, Cremers B, et al. Paclitaxel-coated balloon catheter versus paclitaxel-coated stent for the treatment of coronary in-stent restenosis: the three-year results of the PEPCAD II ISR study. EuroIntervention. 2015;11(8):926-934. doi:10.4244/EIJY14M08_12
4.
Xia HY, Low AF, Lee CH, et al. Treatment of coronary in-stent restenosis with drug-eluting balloon catheter: real-world outcome and literature review. Ann Acad Med Singap. 2013;42(1):49-51.
5.
Mathey DG, Wendig I, Boxberger M, Bonaventura K, Kleber FX. Treatment of bifurcation lesions with a drug-eluting balloon: the PEPCAD V (Paclitaxel Eluting PTCA Balloon in Coronary Artery Disease) trial. EuroIntervention. 2011;7 Suppl K:K61-K65. doi:10.4244/EIJV7SKA11
6.
Vaquerizo B, Serra A, Miranda-Guardiola F, et al. One-year outcomes with angiographic follow-up of paclitaxel-eluting balloon for the treatment of in-stent restenosis: insights from Spanish multicenter registry. J Interv Cardiol. 2011;24(6):518-528. doi:10.1111/j.1540-8183.2011.00667.x
7.
Hung NM. Study on the Efficacy of Drug-Coated Balloon Angioplasty for Certain Coronary Artery Lesions, Hanoi Medical University. 2019
8.
Unverdorben M, Vallbracht C, Cremers B, et al. Paclitaxel-coated balloon catheter versus paclitaxel-coated stent for the treatment of coronary in-stent restenosis. Circulation. 2009;119(23):2986-2994. doi:10.1161/CIRCULATIONAHA.108.839282
9.
Scheller B, Hehrlein C, Bocksch W, et al. Two year follow-up after treatment of coronary in-stent restenosis with a paclitaxel-coated balloon catheter. Clin Res Cardiol. 2008;97(10):773-781. doi:10.1007/s00392-008-0682-5
10.
Verheye S, Vrolix M, Kumsars I, et al. The SABRE Trial (Sirolimus Angioplasty Balloon for Coronary In-Stent Restenosis): Angiographic Results and 1-Year Clinical Outcomes. JACC Cardiovasc Interv. 2017;10(20):2029-2037. doi:10.1016/j.jcin.2017.06.021
11.
Caiazzo G, Oliva A, Testa L, et al. Sirolimus-coated balloon in all-comer population of coronary artery disease patients: the EASTBOURNE DIABETES prospective registry. Cardiovasc Diabetol. 2024;23(1):52. doi:10.1186/s12933-024-02139-9
12.
Yang JQ, Peng JH, Xu T, et al. Meta-analysis of the effects of drug-coated balloons among patients with small-vessel coronary artery disease. Medicine (Baltimore). 2019;98(22):e15797. doi:10.1097/MD.0000000000015797
13.
Xue W, Ma J, Yu X, et al. Analysis of the incidence and influencing factors associated with binary restenosis of target lesions after drug-coated balloon angioplasty for patients with in-stent restenosis. BMC Cardiovasc Disord. 2022;22(1):493. doi:10.1186/s12872-022-02923-z
14.
Cassese S, Xu B, Habara S, et al. Incidence and predictors of reCurrent restenosis after drug-coated balloon Angioplasty for Restenosis of a drUg-eluting Stent: The ICARUS Cooperation. Rev Esp Cardiol (Engl Ed). 2018;71(8):620-627. doi:10.1016/j.rec.2017.08.005

Tệp

Lượt xem bài49
Lượt xem tài liệu0
Lượt tải xuống0
Chuyên mục NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Số phát hành Số 117
Trang 114-127