Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả ngắn hạn điều trị tổn thương động mạch vành bằng phương pháp nong bóng phủ thuốc và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại sau nong bóng phủ thuốc.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc. Các bệnh nhân được chụp lại động mạch vành kiểm tra sau 12 tháng.
Kết quả: Với 56 tổn thương được nong bóng phủ thuốc ở 56 bệnh nhân, nong bóng tổn thương tái hẹp trong stent chiếm đa số trường hợp với 67,86%. Trước can thiệp, có 4 tổn thương (7,14%) dòng chảy TIMI0, 3 tổn thương (5,36%) dòng chảy TIMI1 và 19 tổn thương (33,93%) có dòng chảy TIMI2. Mức độ hẹp trung bình của các tổn thương trong nhóm đối tượng nghiên cứu là 83,19 ± 10,20%. Sau nong bóng phủ thuốc hầu hết tổn thương đạt dòng chảy TIMI3 với tỉ lệ 96,43%. Mức độ hẹp lòng mạch theo đường kính giảm xuống còn 11,94 ± 8,41% sau khi nong bóng phủ thuốc. Tỉ lệ thành công về mặt thủ thuật là 100%. Có 31/56 (55,3%) bệnh nhân được chụp lại để kiểm tra vị trí nong bóng phủ thuốc sau 12 tháng. Mức độ hẹp lại trung bình sau 12 tháng nong bóng phủ thuốc là 47,78 ± 30,60%, mức độ mất lòng mạch muộn là 0,43 ± 0,36mm. Có tiền sử tái hẹp stent, có nhiều stent cũ trên nhánh, tổng chiều dài stent lớn, tổn thương dài và tổn thương tái hẹp trong stent cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại sau 12 tháng. Khi phân tích hồi quy đa biến, các yếu tố đặt nhiều stent và tổn thương dài là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy, can thiệp động mạch vành bằng phương pháp nong bóng phủ thuốc (DCB) tại Bệnh viện Hữu nghị đạt hiệu quả cao với tỉ lệ thành công thủ thuật là 100%. Sau can thiệp, mức độ hẹp lòng mạch giảm đáng kể từ 83,19% xuống còn 11,94%.
Kết quả theo dõi sau 12 tháng cho thấy mức độ hẹp tái phát trung bình là 47,78%. Các yếu tố đặt nhiều stent và tổn thương dài là những yếu tố tiên lượng độc lập gây tái hẹp sau can thiệp bằng nong bóng phủ thuốc.