Tóm tắt
Mục tiêu: Nhằm khảo sát tỷ lệ chuyển dạng xuất huyết (CDXH) trong thời gian nằm viện và mức độ ảnh hưởng của chuyển dạng xuất huyết đến tiên lượng sớm (trong vòng 30 ngày) ở những người bệnh tắc mạch não cấp. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến CDXH ở bệnh nhân đột quỵ não cấp do tắc mạch não.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ não cấp do nhồi máu não được điều trị tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ 03/2023-3/2024. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc và chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Tất cả bệnh nhân được ghi nhận các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, và đánh giá CDXH bằng phim CT hoặc MRI não theo protocol trong thời gian nằm viện và tại thời điểm ra viện 30 ngày qua đó phân tích và đánh giá các đặc điểm CDXH ở nhóm nghiên cứu, tiên lượng sớm (30 ngày), và tình trạng sử dụng thuốc kháng huyết khối dự phòng đột quỵ thứ phát.
Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân CDXH trong nhóm nghiên cứu là 41 (24.1%). Các mức độ CDXH: HI 1, HI 2, PH1, PH 2, SICH lần lượt là 31.7 %, 41.1 %, 9.7%, 9.7% và có 2 bệnh nhân (4.8%) là XHCD có triệu chứng. Có 75.6% bệnh nhân xuất hiện CDXH trong khoảng 24-48h từ khi xuất hiện triệu chứng còn lại là CDXH sau 48h (24.4%). Bệnh nhân có tiền sử THA cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có CDXH so với nhóm không có CDXH với p=0.025. Có một số yếu tố làm tăng nguy cơ CDXH sau đột quỵ nhồi máu não như: THA làm tăng 1.45 lần (p<0.05), tuổi >70 làm tăng 1.45 lần (p<0.05), HA tâm thu lúc vào viện >140 mmHg làm tăng 147 lần (p<0.05). Các yếu tố tiêu sợi huyết, lấy HK cơ học, điểm NIHSS lúc vào viện ≥ 6 và nhồi máu não diện rộng (≥2 thùy não) làm tăng nguy cơ CDXH lần lượt 2.34, 1.9, 1.67, 1.76 lần tuy nhiên p>0.05. Tỷ lệ tử vong chung của nhóm nghiên cứu là 1% (do CDXH có triệu chứng). Không có sự khác nhau về thời gian nằm viện, mức độ di chứng (thang điểm Rankin score, Barthel Index), tỷ lệ các biến cố tim mạch chính MACE (tử vong, tái nhập viện, tái đột quỵ, NMCT) sau thời gian theo dõi 30 ngày. Có 108 BN (64%) được sử dụng thuốc chống huyết khối dự phòng tai biến mạch não thứ phát. Tỷ lệ BN ở nhóm không có CDXH được dùng thuốc chống huyết khối cao hơn (78% so với 23%, p<0.05%). So sánh giữa 2 nhóm không có CDXH và có XHCD: tỷ lệ bệnh nhân được dùng KTC cao hơn (55% so với 15%, p<0.05) và KTC kép cũng cao hơn (100% so với 0%, p<0.05). Có 27 BN được sử dụng chống đông đường uống (67% kháng vitamin K, 33% NOAC). Nhóm bệnh nhân có CDXH có tỷ lệ dùng thuốc chống đông cao hơn tuy nhiên p>0.05
Kết luận: CDXH sau đột quỵ nhồi máu não cấp là một biến chứng thường gặp trên thực hành lâm sàng và những bệnh nhân CDXH có triệu chứng thường có kết cục lâm sàng kém. Việc sử dụng thuốc chống huyết khối sau đột quỵ nhồi máu não là một thách thức cần thêm các thử nghiệm, nghiên cứu sâu hơn để đánh giá tính hiệu quả và an toàn giữa các nhóm thuốc chống huyết khối.