Tóm tắt
Đặt vấn đề: Hội chứng ngưng thở khi ngủ (SAS) là một rối loạn hô hấp khi ngủ thường gặp có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống, biểu hiện bằng những cơn ngừng thở từng lúc khi ngủ trong thời gian từ 10 giây trở lên, dẫn đến giảm nồng độ oxy trong máu, sau đó động tác hô hấp hoạt động trở lại thường kèm với sự thức dậy ngắn. Hội chứng này gây nhiều nguy hiểm đối với hệ tim mạch, thần kinh, hô hấp. Tuy vậy, chẩn đoán lại thường hay bỏ sót và đến khi phát hiện thì hội chứng ngưng thở khi ngủ đã để lại biến chứng nặng nề. Theo thống kê có khoảng 1/3 - 1/2 của 5 triệu bệnh nhân suy tim ở Mỹ có kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ, tăng gần 2,2 lần nguy cơ suy tim so với người không có hội chứng này. Ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu về hội chứng này. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng ngưng thở khi ngủ ở bệnh nhân suy tim. Đánh giá mối tương quan giữa chỉ số AHI với phân suất tống máu, thang điểm Epworth và độ nặng của suy tim theo NYHA. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 25 bệnh nhân suy tim kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ có đối chiếu với nhóm chứng gồm 14 bệnh nhân suy tim không có hội chứng ngưng thở khi ngủ điều trị tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế được phân loại sau khi đo đa ký hô hấp. Kết quả: Chia thành 2 nhóm: suy tim kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ (gọi là nhóm SAS (+)) và suy tim không kèm hội chứng ngưng thở khi ngủ ( gọi là nhóm SAS (-)). Ở nhóm SAS (+) thường có triệu chứng ngáy to (84 %) và thức giấc khi ngủ (80%); Thang điểm Epworth ở nhóm SAS (+) 10,64 ± 1,41 cao hơn nhóm SAS (-) 9,07 ± 0,92; Có sự tương quan thuận mức độ rất chặt chẽ giữa chỉ số AHI và thang điểm Epworth (r = 0,714, p<0,05). Kết luận: Tầm soát hội chứng ngưng thở khi ngủ ở bệnh nhân suy tim là thiết yếu, giúp định hướng yếu tố nguy cơ làm giảm tiến triển của bệnh cũng như ngăn ngừa các biến chứng tim mạch có thể xảy ra và cải thiện tỷ lệ tử vong.