Tóm tắt
Mở đầu: Phẫu thuật nối tĩnh mạch chủ trên vào động mạch phổi được thực hiện cho trẻ bệnh tim bẩm sinh với một tâm thất chức năng nhằm cải thiện chức năng bơm của tim và tăng cung cấp oxy cho mô. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá kết quả của phẫu thuật này tại Viện Tim TP. Hồ Chí Minh, trong đó đặc biệt chú ý đến ảnh hưởng của hở van nhĩ thất nặng trên tiên lượng bệnh nhân.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ trên những bệnh nhân được phẫu thuật nối tĩnh mạch chủ trên vào động mạch phổi tại Viện Tim từ 1/1/2014 đến 31/8/2016. Mức độ hở van nhĩ thất được ghi nhận trước mổ, ngay sau mổ và ở lần tái khám gần nhất. Các biến cố kết cục gồm tử vong trong 30 ngày, biến chứng hậu phẫu sớm và còn sống mà không cần phải dùng thuốc điều trị suy tim. Thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức và nằm viện sau mổ cũng được ghi nhận.
Kết quả: Có 79 bệnh nhân gồm 44 nam (55,7%), tuổi trung vị 24 tháng (min 1 tháng; max 37 tuổi). 31 bệnh nhân (39,2%) có hở van nhĩ thất nặng trước mổ. 8 bệnh nhân chết trong 30 ngày đầu (tử vong 10,1%), trong đó 4 ca chết do tăng áp động mạch phổi nặng. Trong số 10 bệnh nhân hở van nhĩ thất nặng không được sửa van kèm theo khi mổ, 2 người có hở van tự giảm sau mổ. Trong số 21 người được sửa van nhĩ thất kèm theo khi mổ, 13 người vẫn còn hở van nặng sau mổ. So với bệnh nhân không có hở van nhĩ thất nặng sau mổ, bệnh nhân hở van nhĩ thất nặng có thời gian thở máy và thời gian nằm hồi sức dài hơn và tỉ lệ còn sống không phải dùng thuốc điều trị suy tim thấp hơn.
Kết luận: Tăng áp động mạch phổi nặng là một nguyên nhân chính của tử vong trong 30 ngày. Hở van nhĩ thất nặng hiếm khi tự giảm sau mổ. Sửa van nhĩ thất hiện vẫn là một thách thức đối với các phẫu thuật viên tim. Hở van nhĩ thất nặng sau mổ có ảnh hưởng bất lợi đối với tiên lượng của bệnh nhân.