Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bất thường trở về tĩnh mạch phổi hoàn toàn (BTTVTMP) là 1 bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp với tỷ lệ mắc bệnh từ 1% đến 3% trẻ sinh ra sống. Trong y văn, BTTVTMP hoàn toàn có tắc nghẽn chiếm tỷ lệ từ 25,5% đến 79,5% trường hợp và vẫn là yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật. Phẫu thuật điều trị BTTVTMP hoàn toàn có tắc nghẽn là cấp cứu ngoại khoa tim mạch thực sự, và đầy thách thức, với tỷ lệ tử vong có thể lên đến 39,5%. Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả trung hạn sau phẫu thuật BTTVTMP hoàn toàn có tắc nghẽn tại Trung tâm Tim mạch trẻ em, Bệnh viện Nhi Trung ương. Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 3 – 2011 đến tháng 5 – 2017 có tổng số 86 trường hợp chẩn đoán và phẫu thuật điều trị bệnh tim bẩm sinh BTTVTMP hoàn toàn tắc nghẽn, được thu thập hồ sơ và tiến hành hồi cứu. Các trường hợp BTTVTMP hoàn toàn có kèm theo các bệnh lý tim một thất không nằm trong nghiên cứu này. Các thể bệnh bao gồm: 44 bệnh nhân thể trên tim (51,2%), 20 bệnh nhân thể dưới tim (23,4%), 15 bệnh nhân thể trong tim (17,4%) và 7 bệnh nhân thể hỗn hợp (8%). Vị trí tắc nghẽn tại tĩnh mạch thẳng có 58 bệnh nhân, 23 bệnh nhân có lỗ PFO hạn chế (26,7%), 2 bệnh nhân có thiểu sản tĩnh mạch phổi ở ngoại biên (2,3%) và 3 bệnh nhân có tắc nghẽn ở nhiều vị trí (3,6%). Tuổi phẫu thuật trung bình là 64,2 ngày (1 - 540 ngày) và cân nặng trung bình là 3,9kg (1,7 - 8kg). Có 38 bệnh nhân phải thở máy trước mổ, trong đó có 20 bệnh nhân có shock tim khi vào viện. Kết quả: Có 9 bệnh nhân (10,5%) tử vong tại bệnh viện và 2 bệnh nhân (2,3%) tử vong muộn. Có 5 bệnh nhân (5,8%) phải mổ lại vì hẹp miệng nối với thời gian mổ lại trung bình là sau 3,4 tháng (2 – 9 tháng). Thời gian cặp động mạch chủ trung bình là 62,98 ± 24,11 phút (17 – 154 phút) và thời gian chạy máy trung bình là 111,87 ± 42,58 (32 – 270 phút). Có 25 trường hợp cần sử dụng ngừng tuần hoàn với thời gian trung bình là 5,71 ± 10,48 phút. Kỹ thuật sutureless được áp dụng trên 39 bệnh nhân. Có 21 bệnh nhân được thắt tĩnh mạch thẳng, 17 bệnh nhân cần đặt máy tạo nhịp nhĩ sau mổ và 7 bệnh nhân phải để hở xương ức sau phẫu thuật. Chênh áp trung bình qua miệng nối sau mổ là 4,77 ±5,48 mmHg (1 – 27 mm Hg). Phân tích hồi qui đa biến cho thấy, nhiễm khuẩn và suy thận cấp phải thẩm phân phúc mạc là 2 yếu tố liên quan đến tỷ lệ tử vong (lần lượt với p = 0,001 và p = 0,003). Tuy nhiên, không có yếu tố nào liên quan đến tỷ lệ mổ lại. Kết luận: Yếu tố tiên lượng nguy cơ tử vong sau phẫu thuật điều trị BTTVTMP hoàn toàn có tắc nghẽn tại Trung tâm Tim mạch trẻ em - Bệnh viện Nhi Trung ương có liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh viện, và kết quả điệu trị bệnh tim bẩm sinh phức tạp này sẽ cải thiện hơn nữa khi nhiễm khuẩn bệnh viện được kiểm soát tốt hơn. Tuy nhiên, kết quả phẫu thuật là khả quan trong điều kiện các nguồn lực còn nhiều hạn chế.