Tóm tắt
Đặt vấn đề: sST2 là dấu ấn sinh học mới trong tiên lượng suy tim. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 150 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát. Phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả: Nồng độ sST2 trung bình là 19,27±4,81 ng/ml, 57,3% bệnh nhân tăng sST2. Ở nhóm tuổi < 40, nồng độ trung bình của sST2 là 18,05±4,31 ng/ml, nhóm 40 - 49 tuổi là 19,18±5,39 ng/ml, nhóm 50 - 59 tuổi là 19,56 ± 5,70 ng/ml, nhóm tuổi 60 - 69 là 18,76 ± 4,05 ng/ml, nhóm 70 - 79 tuổi là 20,07 ± 4,58 ng/ml, nhóm ≥ 80 tuổi là 19,73 ± 4,83 ng/ml. Nồng độ trung bình ở nam giới là 19,77±5,09 ng/ml, ở nữ giới là 19,08±4,71 ng/ml. Nồng độ sST2 ở nhóm tăng huyết áp giai đoạn 1 (17,91±4,44 ng/m) thấp hơn ở nhóm giai đoạn 3 (21,23±5,18 ng/ml) có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Có thể dùng sST2 để tiên lượng nguy cơ dày thất trái. Phương trình hồi quy: Nguy cơ phì đại thất trái = 0,110x sST2 + 0,023x hiệu áp - 3,901. Kết luận: Có mối liên quan giữa nồng độ sST2 và tăng huyết áp cũng như với chỉ số khối cơ thất trái.