Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tần suất, thời điểm xuất hiện và yếu tố nguy cơ của hở van 3 lá nặng sau thay van 2 lá nhân tạo và ảnh hưởng của hở van 3 lá nặng trên tiên lượng của bệnh nhân. Bệnh nhân và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ trên những người bệnh van tim hậu thấp được thay van 2 lá nhân tạo không kèm sửa van 3 lá tại Viện Tim trong các năm 1995-2005, không có hở van 3 lá nặng trước mổ và được theo dõi sau mổ ít nhất 1 năm. Ước tính tỉ lệ còn sống không bị hở van 3 lá nặng bằng phương pháp Kaplan-Meier. Xác định các yếu tố nguy cơ độc lập của hở van 3 lá nặng mới xuất hiện sau mổ bằng phân tích đa biến với hồi qui Cox. Kết quả: 413 bệnh nhân (177 nam, tuổi trung bình 40,9 ± 9,2) được tuyển vào nghiên cứu. Thời gian theo dõi trung vị là 13 năm. 46 bệnh nhân (11,1%) bị hở van 3 lá nặng mới xuất hiện sau mổ. Tỉ lệ còn sống không bị hở van 3 lá nặng là 88,0% ± 1,7% sau 10 năm. Kể từ năm thứ 10 sau mổ không có trường hợp hở van 3 lá nặng mới xuất hiện. Hai yếu tố nguy cơ độc lập của hở van 3 lá nặng mới xuất hiện sau mổ là rung nhĩ (HR 2,0) và hở van 3 lá vừa-nặng trước mổ (HR 2,4). Ở lần tái khám gần nhất, tỉ lệ dùng furosemide để điều trị suy tim ở nhóm hở van 3 lá nặng mới xuất hiện sau mổ là 23,9% và ở nhóm không hở van 3 lá nặng là 7,3% (P = 0,001). Kết luận: Ở người bệnh van tim hậu thấp được thay van 2 lá nhân tạo, 11,1% bị hở van 3 lá nặng mới xuất hiện trong 10 năm đầu sau mổ. Hai yếu tố nguy cơ độc lập của hở van 3 lá nặng mới xuất hiện sau mổ là rung nhĩ và hở van 3 lá vừa-nặng trước mổ. Hở van 3 lá nặng mới xuất hiện sau thay van 2 lá nhân tạo có liên quan với tăng nhu cầu dùng thuốc lợi tiểu để điều trị suy tim.