Tóm tắt
Theo hướng dẫn 2016 của Hội Tim châu Âu, bệnh nhân đã có biểu hiện suy tim trong một thời gian trước đó được gọi là có “suy tim mạn” và một bệnh nhân được điều trị với các triệu chứng và dấu hiệu của suy tim không thay đổi từ ít nhất 1 tháng được gọi là có “suy tim ổn định” [1]. Cũng theo hướng dẫn này, suy tim được phân loại thành suy tim với phân suất tống máu (PSTM) giảm (hay suy tim tâm thu) khi PSTM thất trái dưới 40%, suy tim với PSTM bảo tồn (hay suy tim tâm trương) khi PSTM thất trái lớn hơn hay bằng 50% và suy tim với PSTM ở khoảng giữa khi PSTM thất trái từ 40% đến 49% [1]. Trong 30 năm gần đây, điều trị nội khoa suy tim tâm thu mạn đã đạt nhiều bước tiến quan trọng với việc xác lập vị trí của các nhóm thuốc được chứng minh là giảm tử vong và nhập viện vì suy tim tăng nặng: thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin (được chỉ định cho bệnh nhân không dung nạp ức chế men chuyển), thuốc chẹn thụ thể bêta, thuốc đối kháng aldosterone và thuốc ức chế kênh If nút xoang (ivabradine được chỉ định cho bệnh nhân có nhịp xoang và tần số tim trên 70/phút). Từ năm 2014, liệu pháp ức chế neprilysin và thụ thể angiotensin đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong điều trị suy tim tâm thu mạn. Liệu pháp này cùng với liệu pháp ức chế SGLT2 cũng mở ra triển vọng mới trong phòng ngừa và điều trị suy tim mạn, cả suy tim tâm thu lẫn suy tim tâm trương. Đây là những chủ đề được đề cập trong bài báo này.